tài chính xi măng
báo cáo thực tập xi măng lưu xá thái nguyên qua bảng bckqhdsxkd 1. trƯỜng ĐẠi hỌc kinh tẾ vÀ quẢn trỊ kinh doanh khoa ngÂn hÀng - tÀi chÍnh bÁo cÁo thỰc tẬp tỐt nghiỆp hỆ chÍnh quy chuyÊn ngÀnh: tÀi chÍnh doanh nghiỆp chuyÊn ĐỀ: phÂn tÍch tÌnh hÌnh tÀi chÍnh tẠi nhÀ mÁy xi mĂng lƯu xÁ thÁi nguyÊn thÔng qua bÁo cÁo kẾt
Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2022 của CTCP Xi măng Vicem Hà Tiên (Mã: HT1) cho thấy doanh thu thuần tăng 5,5% so với cùng kỳ lên 2.385 tỷ đồng. Trong kỳ, giá vốn hàng bán tăng tới 13,5% lên 2.066 tỷ đồng.
Quay về Menu chính; Tài Liệu và Ứng Dụng; Tài Liệu Kỹ Thuật. Quay về Tài Liệu và Ứng Dụng; Tài Liệu Kỹ Thuật; Phụ gia xi măng là vật liệu được thêm vào xi măng để tối ưu hóa các đặc tính của xi măng và quá trình nghiền xi măng. Phụ gia xi măng được phân thành
Tư vấn viên. 1384 Đã xem. Miêu tả. Thông số chi tiết. Bình luận. Đao mái xi măng được sử dụng phổ biến trong các bộ mái truyền thống trong trang trí nhà thờ, từ đường, đình chùa, văn miếu…. Chúng được chạm khắc làm vật trang trí trên các nóc cung điện cổ, chùa
Công ty Tài chính cổ phần Tín Việt-VietCredit vừa đổi tên Công ty từ Công ty Tài chính cổ phần Xi Măng-CFC thành Công ty Tài chính cổ phần Tín Việt-VietCredit, đồng thời công bố bộ nhận diện thương hiệu đã được xây dựng mới phù hợp hơn cho sự thay đổi này, Đây là một bước chuyển mình toàn diện của
Báo cáo tài chính; Báo cáo thường niên; HAMACO là nhà phân phối hàng đầu các ngành hàng như: vật liệu xây dựng (thép, xi măng, cát, đá, gạch, sơn,…), gas (gas đốt, bếp gas, phụ tùng ngành gas), dầu nhờn, dầu, sơn, hàng tiêu dùng … sản xuất bê tông tươi, với hơn 17 đơn
Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ BỘ MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP I Đề Tài Giai đoạn 2007 - 2010 Giảng viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện Nguyễn Việt Đức Nhóm 01 Huế, tháng 4 năm 2011 LỜI MỞ ĐẦU Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng với xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, tất yếu doanh nghiệp dù bất cứ loại hình nào cũng phải đối mặt với những khó khăn, thử thách và phải chấp nhận quy luật đào thải từ phía thị trường. Đứng trước những thử thách đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực của mình. Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế và tận dụng những cơ hội để phát triển doanh nghiệp. Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệp cần định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính. Từ đó phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tạo tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhận thức được tầm quan trọng đó nhóm chúng em đã chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn”. Nhằm hiểu rõ hơn tình hình tài chính và và sự biến động của chúng theo thời gian từ đó đưa ra những nhận xét, nhận định. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, do hạn chế bởi trình độ và thời gian nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em mong nhận được ý kiến đánh giá của thầy để chúng em có thể hoàn thiện hơn trong những bài tập tiếp theo. Chúng em xin chân thành cám ơn! 2 MỤC LỤC MỤC TRANG TÓM LƯỢT BÁO CÁO................................................................................................................4 NỘI DUNG A. MỞ ĐẦU ................................................................................................................................................ 5 B. PHÂN TÍCH VĨ MÔ ................................................................................................................................................ 6 C. PHÂN TÍCH NGÀNH ................................................................................................................................................ 11 D. PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ LỢI NHUẬN ................................................................................................................................................ 13 E. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ................................................................................................................................................ 16 F. KẾT LUẬN ................................................................................................................................................ 24 DANH SÁCH THAM KHẢO ............................................................................................................................................................ 25 3 TÓM LƯỢT BÁO CÁO Bài báo của nhóm chúng em bao gồm những nội dung chính sau A. Mở đầu Nêu lên phương pháp nghiên cứu và giới thiệu tổng quát về công ty B. Phân tích vĩ mô Khái quát tình hình kinh tế vĩ mô khủng hoảng kinh tế-quá trình hồi phục tài chính và những ảnh hưởng của nó đến công ty. Phân tích chiến lược kinh doanh của công ty trước mắt và lâu dài. C. Phân tích ngành Ứng dụng mô hình SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành xi măng. D. Phân tích rủi ro và lợi nhuận Đo lường, đánh giá rủi ro và lợi nhuận công ty thông qua các chỉ số độ lệch chuẩn, hệ số beta, lợi nhuận kỳ vọng, lợi nhuận yêu cầu… bằng cách ứng dụng mô hình CAPM. E. Phân tài chính Phân tích các nhóm chỉ số Tỷ số thanh toán, tỷ số hoạt động, tỷ số lợi nhuận, ỷ số đòn bẩy, tỷ số giá trị thị trường; Phân tích luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư. F. Kết luận đưa ra nhận xét về công ty. 4 NỘI DUNG A MỞ ĐẦU I. Phương pháp nghiên cứu Mục đích Phạm vi Tình hình tài chính Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn BCC trong giai đoạn năm 2007 đến năm 2010 Phương pháp Phân tích tỷ số, phân tích so sánh và phân tích xu hướng Giới hạn bài báo cáo Các giả định II. Giới thiệu về công ty -Tên Công ty CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN. -Tên giao dịch Quốc tế BIMSON CEMENT JOINT STOCK COMPANY BCC. -Trụ sở Công ty Phường Ba Đình-Thị xã Bỉm Sơn-Tỉnh Thanh Hóa. -Tel/Fax -Ngành nghề kinh doanh +Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu xi măng, clinker +Sản xuất, kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác. -Vốn điều lệ đồng Việt Nam. -Người đại diện theo pháp luật của Công ty. Giám đốc công ty Nguyễn Như Khuê. LOGO Công ty -Website BCC trực thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam VICEM. Ngày 01/05/2006, chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Ngày giao dịch đầu tiên 24/11/2006. 5 B. PHÂN TÍCH VĨ MÔ I. Phân tích kinh tế. Giai đoạn 2007-2010 có nhiều biến động của KTTG cũng như của VN. Khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2007 đã lan rộng thành khủng hoảng KTTG với đỉnh điểm năm 2008. Đến nay, KTTG nói chung và KTVN nói riêng đã đạt được một số biến chuyển tích cực. Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức 4,2% các nước phát triển 2,3%, các nước đang phát triển 6,3%. Thương mại thế giới năm 2010 tăng 13,5% các nước phát triển 11,5%, các nước khác 16,5%1 . Ở VN, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 tăng 6,78% so với năm 2009. Biến động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô thời gian qua ●Lạm phát biến động 2007-2010 Chỉ tiêu Tỉ lệ lạm phát bình quân năm Tỉ lệ lạm phát tháng 12 so với cùng kì năm trước 2007 2008 2009 2010 Nguồn số liệu Tổng cục thống kê VN Từ kết quả trên ta thấy lạm phát trong năm 2008 tăng nhanh đã gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế nước ta ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Bước vào 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta. ●Tỉ giá biến động 2007-2010 Bảng biến động tỷ giá 2007-2010 Thời gian Tháng 1/2007 Tháng 8/2007 Quý 1/2008 Cuối quý 2/2008 Cuối quy3/2008 Quý 4/2008 Biến động tỷ giá của các NHTM 19400VND/USD 1 6 Năm 2009 Tháng 1/2010 Tháng 2/2010 đến VND/USD hết năm 2010 Nguồn Biểu đồ tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 11/2/2011, NHNN tăng tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng 9,3%, từ VND/USD lên VND/USD và giảm biên độ giao dịch xuống ±1% thay vì ±3%. Cơ chế điều chỉnh tỷ giá linh hoạt, theo sát diễn biến thị trường cũng được áp dụng. Xu hướng tăng của tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến BCC bởi một phần dịch vụ và thiết bị của công ty được nhập từ nước ngoài. Nhiều biện pháp quản trị được BCC áp dụng trong việc quản lý rủi ro tỷ giá2. ●Lãi suất cơ bản biến động 2007-2010 Bảng biến động lãi suất cơ bản năm 2007 tới 2010 Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng 9% 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 01/12/2010 9% "2619/QĐNHNN 05/11/2010" 05/11/2010 2 7 8% 2561/QĐ-NHNN 27/10/2010 01/11/2010 8% 2281/QĐ-NHNN 27/9/2010 01/10/2010 8% 2024/QĐ-NHNN 25/8/2010 01/09/2010 8% 1819/QĐ-NHNN 27/7/2010 01/08/2010 8% 1565/QĐ-NHNN 24/6/2010 01/07/2010 8% 1311/QĐ-NHNN 31/5/2010 01/06/2010 8% 1011/QĐ-NHNN 27/4/2010 01/05/2010 8% 618/QĐ-NHNN 25/03/2010 01/04/2010 8% 353/QĐ-NHNN 25/2/2010 01/03/2010 8% 134/QĐ-NHNN 25/01/2010 01/02/2010 8%/năm 2665/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009 7% 2459/QĐ-NHNN 28/10/2009 01/11/2009 7,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009 7% 2024/QĐ-NHNN 26/8/2009 01/09/2009 7% 1811/QĐ-NHNN 30/7/2009 01/08/2009 7% 1539/QĐ-NHNN 30/6/2009 01/07/2009 7% 1250/QĐ-NHNN 22/5/2009 01/06/2009 7% 1015/QĐ-NHNN 29/4/2009 01/05/2009 7% 626/QĐ-NHNN 24/03/2009 01/04/2009 7% 378/QĐ-NHNN 24/02/2009 01/03/2009 7,0% 172/QĐ-NHNN 23/1/2009 01/02/2009 3161/QĐ-NHNN 19/12/2008 22/12/2008 10,0%/năm 2948/QĐ-NHNN 03/12/2008 05/12/2008 11% 2809/QĐ-NHNN 21/11/2008 12%/năm 2559/QĐ-NHNN 3/11/2008 05/11/2008 2316/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008 2131/QĐ-NHNN 25/09/2008 01/10/2008 14%/năm 1906/QĐ-NHNN 29/8/2008 01/09/2008 8 14%/năm 1434/QĐ-NHNN 26/6/2008 01/07/2008 14%/năm 1317/QĐ-NHNN 10/6/2008 11/06/2008 12,00% 1257/QĐ-NHNN 30/5/2008 01/06/2008 12% 1099/QĐ-NHNN 16/5/2008 19/05/2008 978/QĐ-NHNN 29/4/2008 01/05/2008 689/QĐ-NHNN 31/03/2008 01/04/2008 479/QĐ-NHNN 29/2/2008 01/03/2008 305/QĐ-NHNN 30/1/2008 01/02/2008 3096/QĐ-NHNN 01/01/2008 2881/QĐ-NHNN 01/12/2007 8,25%/năm 2538/QĐ-NHNN 31/10/2007 01/11/2007 8,25%/năm 2265/QĐ-NHNN 28/9/2007 01/10/2007 8,25%/năm 2018/QĐ-NHNN 30/8/2007 01/09/2007 8,25%/năm 1787/QĐ-NHNN 31/7/2007 01/08/2007 8,25%/năm 1546/QĐ-NHNN 29/06/2007 01/07/2007 8,25%/năm 1143/QĐ-NHNN 29/5/2007 01/06/2007 908/QĐ-NHNN 27/04/2007 01/05/2007 8,25%/năm 632/QĐ-NHNN 29/03/2007 01/04/2007 8,25%/năm 424/QĐ-NHNN 27/02/2007 01/03/2007 8,25%/năm 298/QĐ-NHNN 31/1/2007 01/02/2007 Nguồn Website Ta thấy từ năm 2007 tới năm 2010 lãi suất cơ bản có liên tục biến động đã gây cho nhiều công ty không ít khó khăn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Đặc biệt trong năm 2008 lãi suất tăng từ 8,25% lên 14% và trong năm 2009 đến 2010 lãi suất cơ bản liên tục tăng từ 7% đến 9% đẩy lãi suât cho vay lên cao làm cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc huy động vốn. Tuy nhiên đây là mức lãi suất đã có can thiệp của chính phủ vì vậy cũng đã hạn chế được ít nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. 9 II. Phân tích chiến lược kinh doanh của công ty - Duy trì thị trường trong nước, luôn nâng cao sức cạnh tranh đồng thời tăng năng suất đem lại hiệu quả cao cho công ty. - Huy động vốn của toàn xã hội và của các cổ đông nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tạo điều kiện để người lao động, cổ đông và những người góp vốn được làm chủ thực sự doanh nghiệp. - Thiết lập phương thức quản lý tiên tiến, tạo động lực thúc đẩy Công ty làm ăn có hiệu quả cao, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động và lợi tức cho cổ đông, tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước. -Phát triển nội lực, coi trọng hợp tác với các đối tác dưới nhiều hình thức nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và sức mạnh của Công ty. - Đưa dây chuyền II đi vào hoạt động với công suất 2 triệu tấn sản phẩm/năm, nâng công suất của toàn Nhà máy lên 3,8 triệu tấn sản phẩm/năm góp phần đưa ngành xi măng lên một bước phát triển mới. 10 C. PHÂN TÍCH NGÀNH Đánh giá theo mô hình SWOT Điểm mạnh - Ngành xi măng nước ta hiện nay đã chủ động được nguồn nguyên liệu clinker không phải nhập khẩu3. - Thị trường xi măng trong nước hiện nay vẫn tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định. - Hiện cả nước có 105 nhà máy sản xuất xi măng 17 Công ty lên sàn giao dịch chứng khoán. Công suất của toàn ngành có thể sản xuất lên tới 61 triệu tấn/năm. Điểm yếu - Xi măng có mối quan hệ chặt chẽ với biến động của ngành xây dựng ngành chủ đạo trong nền kinh tế nên chịu tác động nhiều của các chu kỳ kinh tế. - Sự phân bố không đồng đều của các nhà máy 4. Nước ta hiện có 12 nhà máy xi măng lớn chiếm 60% năng lực sản xuất của toàn ngành nhưng chỉ có 3 nhà máy đặt tại phía Nam. Trong khi đây là thị trường tiềm năng. - Giá các nguyên liệu đầu vào than, điện thường xuyên biến động. - Mặt bằng giá có sự quản lý chặt chẽ từ Chính Phủ, doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp dự báo tương lai sẽ khó xảy ra sự đột biến. - EPS lại thấp hơn so với trung bình thị trường do vay nợ nhiều để tài trợ cho các dự án; do vậy cổ phiếu xi măng kém hấp dẫn nhà đầu tư. Cơ hội - Thị trường trong và ngoài nước vẫn còn tiềm năng lớn. - Đến năm 2015, khi nền kinh tế phục hồ sẽ là lúc ngành xi măng có một bước tiến vượt bậc do nhu cầu xây dựng của nước ta tăng trở lại và tăng mạnh. Thách thức - Ngành xi măng đứng trước bài toán khó là phải giải quyết vấn đề dư cung khi các dự án hoàn thành và đi vào sử dụng5. - Ngành xi măng phải đối mặt với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ để có thể đứng vững phải không ngừng đầu tư đổi mới. 3 . Nước ta có một trữ lượng nguyên liệu lớn đá vôi, đất sét tạo điều kiện cho ngành xi măng phát triển. . Nguyên nhân chủ yếu do nguồn nguyên liệu tập trung chủ yếu ở miền Bắc 5 . Năm 2010 lượng dư thừa ở mức 3 triệu tấn, năm 2011 là 4-5 triệu tấn và 2012 là 8 triệu tấn. 4 11 12 D. PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ LỢI NHUẬN Nhìn vào đồ thị giá đóng cửa chỉ số HASTC và BCC ta thấy giá cổ phiếu đang có xu hướng dần dần ổn định trở lại và tăng điểm. Hơn thế nữa theo phân tích vĩ mô ta thấy tình hình kinh tế Việt Nam đang trên đường phục hồi trở lại như đã nói ở phần phâ tích vĩ mô 6. Vì vậy chúng em quyết định chọn thời điểm giá niêm yêt từ 01/11/2008 đến ngay 30/10/2009 để ước lượng giá thị trường,lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro của cổ phiếu công ty trong giai đoạn tiếp theo. Đây là giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và tăng trưởng đều đặn. 6 6. Chính phủ có những chính sách hỗ trợ phát triển kinh tê. Lạm phát dần được kiềm chế ở mưc độ dưới hai con số. Kinh tế dần thoát ra khỏi suy thoái 13 Tiêu chí Lợi nhuận kỳ vọng phiên giao dịch Độ lệch chuẩn từng phiên giao dịch Lợi nhuận kỳ vọng năm Chứng khoán công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn BCC 22,701 % Danh mục thị trường HASTC 16,9847% Nhận xét Nhìn vào bảng trên ta thấy lợi nhuận kỳ vọng của BCC cao hơn lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là 5,7163 cho thấy giá trị công ty ngày càng tăng giá trị, tuy nhiên rủi ro của việc đầu tư vào cổ phiếu BCC lại cao hơn so với việc đầu tư vào danh mục đầu tư thị trường là 0,000473 vì chưa đa dạng hóa đầu tư. Tuy nhiên nếu đưa cổ phiếu Bcc vào danh mục đầu tư với một tỉ trọng thích hợp thì là rất tốt. Hệ số betaHệ số beta được tính theo khoảng thời gian 01/11/2008 đến ngay 30/10/2009 và giả định hệ số Beta sẽ đúng trong tương lai. Theo phương pháp hồi quy lợi nhuận kỳ vọng của Bcc theo Hastc kết quả là β = Hệ số β = cho biêt rằng lợi nhuận của cổ phiếu cá biệt Bcc biến động gấp lần lợi nhuận thị trường, nghĩa là kinh tế tốt thì lợi nhuận cổ phiếu Bcc tăng chậm hơn lợi nhuận thị trường nhưng nền kinh tế xấu thì lợi nhuận cổ phiếu Bcc giảm chậm hơn lợi nhuận thị trường. Lợi nhuân yêu cầu của nhà đầu tư 7 Lãi suất phi rủi ro Rf Lấy lãi suất tín phiếu kho bạc hiện hành là 9% làm lãi suất phi rủi ro. Là tài sản ngắn hạn. Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ tài chính có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ bởi vì không có khản năng vỡ nợ từ người phát hành, tức là không có chuyện chính phủ mất khản năng thanh toán khoản nợ khi đến kỳ hạn thanh toán, chính phủ lúc nào cũng có thể tăng thuế và in tiền để trả nợ. Vì vậy đây là lý do chúng em chọn lãi suất tín phiếu kho bạc làm lãi suất phi rủi ro. Rm lãi suất thị trường được ước lượng là 16,9847%. Chọn Hastc để tính lợi nhuận thị trường vì chứng khoán Bcc được niêm yết trên sàn giao dịch HXN. Sàn giao dịch HXN được tạp chí nghiên cứa kinh tế số đánh giá là không phải là thị trường yếu 8. Tuy nhiên Hastc vẫn tồn tại những hạn chế đó là không giao dich trên thị trường nên không thể hiện được biến động của thị 7 8 . Công thức Rd = Rf + β*Rm-Rf trường. Hơn nữa số doanh nghiệp niên yết trên sàn HASTC vẫn chưa nhiều nên việc xem là danh mục có thể đại diện cho toàn bộ thị trường. Từ tính toán ta có Rd=15,333%. Đứng trên góc độ của nhà doanh nghiệp thì chi phí sử dụng vốn là 15,333%. So với lợi nhuận kỳ vọng thì lợi nhuận yêu cầu thấp hơn là 7,368%. Vì vậy giá của cổ phiếu công ty đang được định giá thấp. Giá trị của công ty ngày càng được tăng lên. Nên các cổ đông trong công ty nên đầu tư vào công ty tư mua cổ phiếu của công ty. Tổng mức rủi ro = rủi ro phi hệ thống + rủi ro hệ thống. Rủi ro hệ thống 9 Tổng rủi ro10 Vậy rủi phi hệ thống là Ta thấy rủi ro của BCC tương đối nhỏ vì vậy việc đầu tư vào công ty cổ phiếu công ty tương đối an toàn. Và kì vọng trong tương lai giá trị của công ty sẽ tăng giá trị. 9 . tt*β trong đó tt rủi ro thị trườn, β hệ số beta . rủi của BCC chưa đa dạng hóa đầu tư 10 15 E. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH I. Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang Nhận xét Giai đoạn 2007-2009, các khoản nợ chủ yếu tài trợ cho việc mua vật tư xây dựng lắp đạt dây chuyền II làm tăng tài sản ngắn hạn, năm 2010 dây chuyền được đưa vào hoạt động, vật tư dành cho xây dựng tách ra khỏi giá trị nguyên vật liệu hàng tồn kho và chuyển sang gia tăng tài sản cố định làm tài sản cố định tăng đột biến. Biểu đồ trên cho thấy doanh nghiệp chưa bảo đảm nguyên tắc tài trợ về sự hài hòa kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản. II. Phân tích các chỉ số 1. Tỷ số thanh toán Đơn vị tính Lần Thanh toán nhanh BCC Ngành 2007 Thanh toán hiện hành 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang 16 BIỂU ĐỒ MINH HỌA SỰ BIẾN ĐỘNG Nhận xét Tỷ số thanh toán của BCC có xu hướng giảm cùng với xu hướng ngành. Khả năng thanh toán hiện hành cao hơn so với bình quân ngành chủ yếu do hàng tồn kho cao nhưng có chiều hướng giảm dây chuyền II dần hoàn thành nên lượng tồn kho phục vụ xây dựng giảm dần, đặc biệt là sự giảm mạnh năm 2010 do dây chuyền đi vào hoạt động. Khả năng thanh toán nhanh hoàn toàn không đảm bảo khả năng chi trả và thấp hơn nhiều so với bình quân ngành. 2. Tỷ số hoạt động Đơn vị tính Lần Vòng quay tổng tài sản Vòng quay tài sản ngắn Vòng quay vốn chủ sở hạn hữu 2007 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 BCC Ngành Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang BIỂU ĐỒ MINH HỌA SỰ BIẾN ĐỘNG 17 Nhận xét Tỷ số hoạt động của BCC giai đoạn 2007-2010 nhìn chung cao hơn so với bình quân ngành. Vòng quay vốn chủ sở hữu có chiều hướng biến động tốt cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đem lại hơn một đồng doanh thu. Vòng quay tổng tài sản tuy cao hơn so với bình quân ngành nhưng đang có xu hướng giảm năm 2007, bình quân một đồng tài sản tạo ra đồng doanh thu năm 2010 là đồng và năm 2008, 2009 tương ứng là 3. Tỷ số lợi nhuận ROA BCC Ngành 2007 ROE 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang BIỂU ĐỒ MINH HỌA SỰ BIẾN ĐỘNG 18 Nhận xét Tỷ số lợi nhuận ROA, ROE đang có chiều hướng giảm. Giai đoạn 20082010, ROA giảm mạnh do việc tăng đầu tư tài sản dài hạn làm bình quân tổng tài sản tăng năm 2008, bình quân mỗi 100 đồng tài sản của công ty tạo ra 8 đồng lợi nhuận dành cho cổ đông và năm 2010 chỉ là 1 đồng; 2009-2010 chỉ số này thấp hơn so với bình quân ngành. Là một trong hai doanh nghiệp đầu ngành thuộc VICEM, nhưng nhìn chung so với bình quân ngành thì BCC chưa thể được xem là công ty có những chỉ số sinh lời tốt nhất. 4. Tỷ số đòn bẩy Đơn vị tính Lần Tỷ số nợ trên tổng tài Tỷ số nợ trên vốn Tỷ số khả năng trả sản cổ phần lãi vay 2007 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 BCC Ngành Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang BIỂU ĐỒ MINH HỌA SỰ BIẾN ĐỘNG Nhận xét Tỷ số đòn bẩy cho thấy cơ cấu nợ của BCC đang ở mức cao chiếm trên 75% trong tổng tài sản trong giai đoạn 2008-2010. Điều này cho thấy, BCC đang chịu áp lực lớn về trả nợ vay huy động cho dây chuyền II. Đặc biệt khi nhìn vào tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cho thấy sự mất cân đối trong nguồn vốn. Nhận thấy, nếu BCC là một công ty cổ phần thông thường không có tổ chức nhà nước nắm giữ phân lớn, thì sẽ gặp áp lực rất lớn về chi trả lãi vay. 19 Tỷ số khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp từ lợi nhuận hoạt động sản suất kinh doanh vẫn đang duy trì ở mức khá tốt. Mỗi một đồng lãi vay đều được đảm bảo khả năng thanh toán bởi lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2010 dây chuyền II đi vào hoạt động, đây chính là lúc khoản vay 3400 tỷ với lãi suất LIBOR + 71% trong đó là khoản vay bằng Euro được tính lãi làm cho tỷ số khả năng trả lãi năm này giảm mạnh. Theo dự đoán tỷ số này sẽ tiếp tục giảm vì trong thời gian tới VICEM vẫn chưa có quyết định tăng giá xi măng đầu ra và mở rộng thị phần cho các thành viên nên hoạt động kinh doanh không có biến động lớn. 5. Tỷ số giá trị thị trường P/E M/B 2007 2008 2009 2010 2007 2008 2009 2010 BCC Nguồn Báo cáo tài chính BCC trang BIỂU ĐỒ MINH HỌA SỰ BIẾN ĐỘNG Nhận xét Tỷ số giá thị trường của cổ phiếu/lợi nhuận trên cổ phần P/E giảm mạnh trong giai đoạn 2007-2009 năm 2007 nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra đồng để kiếm được 1 đồng lợi nhuận từ công ty nhưng năm 2009 họ chỉ sẵn sàng bỏ ra đồng để được một đồng lợi nhuận. Tuy nhiên đến năm 2010 tỷ số này tăng đột biến từ năm 2009 lên điều này hoàn toàn hợp lý vì từ năm 2010 BCC hoàn thành việc đầu tư xây dựng dây chuyền II mở ra một triển vọng mới cho công ty. Sự biến động của tỷ số giá trị thị trường/giá trị sổ sách M/B của cổ phiếu có xu hướng như tỷ số P/E, cho thấy lòng tin của nhà đầu tư đang quay trở lại với BCC và thị trường đánh giá cao triển vọng tương lai của công ty. 20
Từ khoá Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản... Thuộc tính Nội dung Tiếng Anh English Văn bản gốc/PDF Lược đồ Liên quan hiệu lực Liên quan nội dung Tải về Số hiệu 96/2011/TT-BTC Loại văn bản Thông tư Nơi ban hành Bộ Tài chính Người ký Đỗ Hoàng Anh Tuấn Ngày ban hành 04/07/2011 Ngày hiệu lực Đã biết Ngày công báo Đã biết Số công báo Đã biết Tình trạng Đã biết BỘ TÀI CHÍNH - CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - Số 96/2011/TT-BTC Hà Nội, ngày 04 tháng 07 năm 2011 THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUY ĐỊNH TẠI QUYẾT ĐỊNH SỐ 12/2011/QĐ-TTG NGÀY 24/2/2011 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 và Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu; Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 và Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008 và Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Căn cứ Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 ngày 17/6/2010; Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 9/04/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Căn cứ Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Căn cứ Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 và Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Căn cứ Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ; Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách tài chính quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg như sau Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn chính sách tài chính khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ đối với các ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt - may, da - giày và công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghệ cao theo quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg . Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến công nghiệp hỗ trợ. 2. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg hoặc có tên trong Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg. Điều 3. Ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Đối với các dự án thuộc Danh mục lĩnh vực được ưu đãi về thuế nhập khẩu tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu Nghị định số 87/2010/NĐ-CP hoặc đầu tư vào địa bàn được ưu đãi về thuế nhập khẩu theo quy định tại khoản 18 Điều 12 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP thì được hưởng ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP, cụ thể Được miễn thuế nhập khẩu đối với a Thiết bị, máy móc; b Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ trong nước chưa sản xuất được; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy; c Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng quy định tại điểm a và điểm b khoản này; d Nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc quy định tại điểm a khoản này; đ Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được. Việc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại khoản Điều này được áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế công nghệ, đổi mới công nghệ. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của các dự án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trừ các dự án sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, điều hòa, máy sưởi điện, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện, máy rửa bát đĩa, đầu đĩa, dàn âm thanh, bàn là điện, ấm đun nước, máy sấy khô tóc, làm khô tay và những mặt hàng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 năm năm, kể từ ngày bắt đầu sản xuất. 2. Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm mà trong nước chưa sản xuất được. 3. Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, bao gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học và các nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ. 4. Hàng hóa sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu phi thuế quan không sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khi nhập khẩu vào thị trường trong nước được miễn thuế nhập khẩu; trường hợp có sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài thì khi nhập khẩu vào thị trường trong nước chỉ phải nộp thuế nhập khẩu trên phần nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu cấu thành trong hàng hóa đó. 5. Hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu hoặc xuất vào khu phi thuế quan nếu đã nộp thuế nhập khẩu thì được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ sản phẩm thực tế xuất khẩu và không phải nộp thuế xuất khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu có đủ điều kiện xác định là được chế biến từ toàn bộ nguyên liệu nhập khẩu. 6. Thủ tục miễn thuế nhập khẩu, không thu thuế xuất khẩu và hoàn thuế thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Thông tư số 194/2010/TT-BTC. Điều 4. Vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét vay một phần vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Điều 5. Chính sách trợ giúp tài chính theo quy định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Chủ đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách trợ giúp tài chính theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các văn bản hướng dẫn Nghị định số 56/2009/NĐ-CP , như sau 1. Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại. 2. Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 31/3/2011 của liên Bộ Tài chính – Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 3. Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg ngày 6/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011; Thông tư số 52/2011/TT-BTC ngày 22/4/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg ngày 6/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011. Điều 6. Ưu đãi về thuế đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được hưởng các chính sách về thuế theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, cụ thể như sau 1. Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu a Trường hợp dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao thuộc Danh mục lĩnh vực được ưu đãi về thuế nhập khẩu tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP hoặc đầu tư vào địa bàn được ưu đãi về thuế nhập khẩu theo quy định tại khoản 18 Điều 12 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP thì được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này. b Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được hưởng ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng dẫn tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Thông tư này nếu đảm bảo các điều kiện quy định tương ứng tại từng khoản. c Thủ tục thực hiện ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 194/2010/TT-BTC . 2. Về thuế thu nhập doanh nghiệp a Trường hợp dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao thuộc doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất sản phẩm phần mềm hoặc là doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn…, được ưu đãi về thuế suất, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Chương III Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. b Căn cứ thực hiện ưu đãi về thuế suất, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thông tư số 18/2011/TT-BTC ngày 10/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư 130/2008/TT-BTC . Điều 7. Hướng dẫn chính sách ưu đãi về thuế và thu khác 1. Về thuế giá trị gia tăng a Các doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng. b Các doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được áp dụng thủ tục gia hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp nếu đáp ứng được các điều kiện quy định tại Thông tư số 92/2010/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục gia hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp. 2. Về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư, lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các ưu đãi sau a Miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 9/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 198/2004/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thực hiện. b Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. c Miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định tại Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Điều 8. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 8 năm 2011; 2. Trong quá trình thực hiện, nếu các văn bản liên quan dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản mới được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Nơi nhận - Thủ tướng Chính phủ, các Phó TTCP; - Văn phòng TW và các ban của Đảng; - Văn phòng Quốc hội; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Tòa án nhân dân TC; - Viện Kiểm sát nhân dân TC; - Kiểm toán Nhà nước; - Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - Cục Kiểm tra văn bản Bộ Tư pháp; - Cục Thuế, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố; - Công báo; - Website Chính phủ; - Website Bộ Tài chính; - Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính; - Lưu VT, CST Pxnk KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Đỗ Hoàng Anh Tuấn Lưu trữ Ghi chú Ý kiếnFacebook Email In THE MINISTRY OF FINANCE - SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM Independence - Freedom – Happiness - No. 96/2011/TT-BTC Hanoi, July, 4, 2011 CIRCULAR GUIDING THE FINANCIAL POLICIES SPECIFIED IN THE PRIME MINISTER'S DECISION NO. 12/2011/QD-TTG OF FEBRUARY 24, 2011, ON POLICIES ON DEVELOPMENT OF A NUMBER OF SUPPORTING INDUSTRIESPursuant to June 14, 2005 Law No. 45/ 2005/QH11 on Import Duty and Export Duty and the Government's Decree No. 87/2010/ND-CP of August 13, 2010, detailing the implementation of a number of articles of the Ease on Import Duty and Export Duly;Pursuant to June 3, 2008 Law No. 13/2008/ QH12 on Value Added Lax and the Government's Decree No. I23/2008/NDCP of December 8, 2008, detailing and guiding a number of articles of the Law on Value Added Tax;Pursuant to June 3, 2008 Law No. 14/2008/ QH12 on Enterprise Income Lax and the Government's Decree No. 124/2008/ND-CP of December 11, 2008, detailing and guiding a number of articles of the Law on Enterprise Income Tax;Pursuant to June 17, 2010 Law No. 48/ 2010/QH12 on Non-Agricultural Land Use Tax-Pursuant to the Government's Decree of December 3, 2004, on collection of land use levy and Decree No. 44/ 2008/ND-CP of April 9, 2008, amending and supplementing a number of articles of Decree No. 198/2004/ND-CP;Pursuant to the Government's Decree No. 120/2010/ND CP of December 30, 2010, amending and supplementing a number of articles of the Government's Decree No. 198/ 2004/ND-CP of December 3, 2004, on collection of land use levy;Pursuant to the Government's Decree No. 142/20O5/ND-CP of November 14, 2005, on collection of land and water surface rents and Decree No. 121/2010/ND-CP of December 30, 2010, amending and supplementing a number of articles of Decree No. 142/2005/ND-CP.........Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 66Article 1. Scope of regulationThis Circular guides financial policies to encourage the development of supporting industries of mechanical engineering, electronics-informatics, automobile manufacture and assembly, textile and garment, leather-footwear and hi-tech industry development as specified in Decision No. 12/2011/ 2. Subjects of application1. State management agencies, organizations and individuals related to supporting Projects to manufacture supporting industry products. Supporting industry products are those identified under Clause 2. Article 3 of Decision No. 12/2011/QD-TTg or named in the Prime Minister-promulgated list of priority supporting industry products referred to at Point a. Clause J, Article 5 of Decision No. 12/2011/ 3. Import duty and export duty incentives1. Projects on domains on the list of those eligible for import duty incentives provided in Appendix 1 to the Government's Decree No. 87/2010/ND-CP of August 13, 2010, detailing a number of articles of the Law on Import Duty and Export Duty Decree No. 87/2010/ND-CP or in geographical areas eligible for import duly incentives specified in Clause 18, Article 12 of Decree No. 87/2010/ND-CP. are entitled to import duty and export duty incentives under Article 12 of Decree No. 87/2010/ND-CP, specifically as follows Import duty exemption fora/ Equipment and machinery;.........Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 66c/ Parts, details, knocked-down parts, spare parts, fittings, molds, models and accessories for assembly with equipment, machinery and special-use means of transport specified at Points a and b of this Clause;d/ Domestically unavailable materials and supplies which are used for manufacturing equipment and machinery in technological lines or manufacturing parts, details, knocked-down parts, spare parts, fittings, molds, models and accessories for assembly with equipment and machinery specified at Point a of this Clause;e/ Domestically unavailable construction Import duty exemption for the imports specified in Clause of this Article also applies to project expansion, technology replacement or Import duly exemption for 5 five years after the date of production commencement for domestically unavailable raw materials, supplies and components which are imported to serve production activities under projects on domains eligible for import duty incentives specified in Appendix I to Decree No. 87/2010/ND-CP or in geographical areas facing extreme socio-economic difficulties except projects to manufacture or assemble automobiles, motorcycles, air conditioners, electric heaters, refrigerators, washing machines, electric fans, dish washers. CD players, sound systems, electric irons, kettles, hair dryers, hand dryers and other items under the Prime Minister's decisions.2. Import duty exemption for domestically unavailable raw materials and supplies which are imported for software Import duty exemption for goods imported for scientific research and technological development, including domestically unavailable machinery, equipment, spare parts. supplies and means of transport and technologies scientific documents, books, newspapers and journals and sources of electronic information on science and Goods manufactured, processed, reprocessed or assembled in non-tariff zones without the use of imported raw materials and parts, when being imported into the domestic market, are exempt from import duty for those manufactured, processed, re-processed or assembled with the use of imported raw materials or parts, when imported into the domestic market, import duly shall be paid only for volumes of imported raw materials and parts constituting these For goods imported for export production or export into non-tariff zones, paid import duty amounts, if any. shall be refunded in proportion to the quantity of products actually exported. For exports which are certified to be wholly processed from imported raw materials, export duty is exempted..........Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 66Article 4. Borrowing of state development investment creditProjects to manufacture supporting industry products shall be considered for borrowing state development investment credit to meet part of their funding needs under the Government's regulations on state investment and export credit and guiding 5. Financial assistance policies according to regulations on development support for small- and medium-sized enterprisesSmall- or medium-sized enterprises investing in projects to manufacture supporting industry products are entitled to financial assistance policies under the Government's Decree No. 56/2009/ND-CP of June 30, 2006, on development support for small- and medium-sized enterprises and the following guiding documents1. The Prime Minister's Decision No. 03/ 2011/QD-TTg of January 10, 2011, promulgating the Regulation on guarantee for small- and medium-sized enterprises to borrow loans from commercial Joint Circular No. 05/2011/TTLT-BKHDT-BTC of March 31, 2011, of the Ministry of Planning and Investment and the Ministry of Finance, guiding human resource training support for small- and medium-sized The Prime Minister's Decision No. 21/ 2011/QD-TTg of April 6, 2011, extending the deadline for payment of enterprise income tax for small- and medium-sized enterprises in order to remove difficulties and boost economic development in 2011; the Ministry of Finance's Circular No. 52/2011/TT-BTC of April 22, 2011, guiding the Prime Minister's Decision No. 21/2011/QD-TTg of April 6, 6. Tax incentives for projects to manufacture supporting industry products for hi-tech industry developmentProjects to manufacture supporting industry products for hi-tech industry development are entitled to lax policies under the law on high technologies, specifically as follows.........Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 66a/ Projects to manufacture supporting industry products for hi-tech industry development on the list of domains eligible for import duty incentives provided in Appendix I to Decree No. 87/2010/ND-CP or in geographical areas eligible for import duty incentives provided in Clause 18. Article 12 of Decree No. 87/2010/ND-CP are eligible for import duly incentives under Clause 1, Article 3 of this Projects to manufacture supporting industry products for hi-tech industry development are eligible for import duty and export duty incentives under Clauses 2, 3,4 and 5. Article 3 of this Circular, provided that they satisfy relevant Procedures for provision of import duly and export duty incentives comply with Circular No. 194/2010/ Regarding enterprise income taxa/ Projects to manufacture supporting industry products for hi-tech industry development belonging to enterprises newly formed under investment projects in hi-tech sectors, scientific research and technological development or software production or enterprises newly formed under investment projects in geographical areas facing socio-economic difficulties or extreme socio-economic difficulties are eligible for enterprise income tax rates and tax exemption or reduction under Chapter III of the Law on Enterprise Income Bases for application of preferential enterprise income tax rates and tax exemption or reduction comply with the Government's Decree No. 124/2008/ND-CP of December 11, 2008, detailing and guiding a number of articles of the Law on Enterprise Income Tax, the Ministry of Finance's Circular No. 130/2008/TT-BTC of December 26, 2008, guiding a number of articles of Law No. 14/2008/QH12 on Enterprise Income Tax. and the Government's Decree No. 124/2008/ND-CP of December 11, 2008, and the Ministry of Finance's Circular No. 18/2011/TT-BTC of February 10, 2011, amending and supplementing Circular No. 130/2008/ 7. Guidance on other tax and payment incentives1. Regarding value-added taxa/ Enterprises having projects to manufacture supporting industry products shall perform their value-added tax obligations under the Law on Value-Added Tax and the Government's Decree No. 123/2008/ND-CP of December 8, 2008, detailing and guiding a number of articles of the Law on Value-Added Tax..........Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 662. Regarding land use levy, land and water surface runt and non-agricultural land use taxProjects to manufacture supporting industry products on domains eligible for investment incentives or special investment incentives or in geographical areas facing socio-economic difficulties or extreme socio-economic difficulties are eligible fora/ Land use levy exemption or reduction under the Government's Decree No. 198/2004/ND-CP of December 3. 2004. on collection of land use levy Decree No. 44/2008/ND-CP of April 9, 2008, and Decree No. 120/2010/ND-CP of December 30, 2010, amending and supplementing a number of articles of Decree No. 198/2004/ND-CP, and guiding Land and water surface rent exemption or reduction under the Government's Decree No. 142/2005/ND-CP of November 14, 2005, on collection of land and water surface rents and Decree No. 121/2010/ND-CP of December 30, 2010, amending and supplementing a number of articles of Decree No. 142/2005/ND-CP. and guiding Non agricultural land use tax exemption or reduction under the Law on Non-Agricultural Land Use Tax and its guiding 8. Effect1. This Circular takes effect on August 18, In the course of implementation of this Circular, if relevant documents mentioned in this Circular are amended, supplemented or replaced with new ones, new documents phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung chi tiết xin liên hệ ĐT 028 3930 3279 DĐ 0906 22 99 66FOR THE MINISTER OF FINANCE DEPUTY MINISTER Do Hoang Anh Tuan Thông tư 96/2011/TT-BTC ngày 04/07/2011 hướng dẫn chính sách tài chính quy định tại Quyết định 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ do Bộ Tài chính ban hành
Xi măng là vật liệu xây dựng cơ bản được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, hiện chưa có sản phẩm thay thế. Với vai trò là nguyên liệu đầu vào chính cho các ngành kinh tế lớn khác như bất động sản, xây dựng, đầu tư công, ngành xi măng được coi là ngành công nghiệp trụ cột, góp phần công nghiệp hóa, thúc đẩy quá trình đô thị hóa của một quốc gia. Ngành xi măng gồm tất cả các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu xi măng nhằm mục tiêu Tiêu thụ nội địa và Xuất khẩu. Nhận biết được tầm quan trọng của ngành xi măng, hầu hết các quốc gia đã giành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành. Với mục tiêu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại, Việt Nam đã coi ngành sản xuất xi măng là ngành công nghiệp trọng điểm của nền kinh tế, đáp ứng tối đa nhu cầu về xi măng và tăng cường xuất khẩu. Các loại sản phẩm của ngành Trên quan điểm người tiêu dùng cuối cùng, sản phẩm xi măng được chia thành ba nhóm chủ yếu Xi măng thông dụng xi măng Portland mác PC – không chưa phụ gia khoáng như PC30, PC40, PC50,…, xi măng Portland hỗn hợp mác PCB – có trộn thêm phụ gia khoáng như đá pudôlan, xỉ lò,… như PCB30, PCB40,… là loại dùng cho công nghiệp xây dựng dân dụng, chiếm phần lớn sản phẩm của ngành và được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Tùy theo mục đích sử dụng, người tiêu dùng lựa chọn loại xi măng có tính năng phù hợp, ví dụ xi măng PCB40 hoặc PC40, PC50 dùng trong các công trình có yêu cầu kết cấu bê tông chịu lực cao. Xi măng đặc biệt xi măng bền sunfat, xi măng Porland trắng, xi măng Porland ít tỏa nhiệt là loại xi măng chuyên dụng được thiết kế để cải thiện tính chất bê tông, sử dụng trong các công trình bê tông xây dựng tại những nơi có môi trường khắc nghiệt như ngoài bờ biển hoặc các môi trường nhiễm mặn, ví dụ như cầu tàu, bến du thuyền, tường chắn biển, đập nước… Loại xi măng này giúp giảm thiểu sự ăn mòn và phá hủy kết cấu thép. Bán thành phẩm Clinker, xi măng Portland thương phẩm là sản phẩm thu được sau khi nung hỗn hợp nguyên liệu đá vôi – đất sét và một số phụ gia có thành phần cần thiết đến kết khối để tạo thành các khoáng chủ yếu gồm canxi silicat độ bền cao, canxi alumiat và canxi alumoferit. Chất lượng của bán thành phẩm sẽ quyết định tính chất của xi măng. Các vật liệu xi măng thường dùng Từ xi măng, trong xây dựng đã hình thành nên các vật liệu xi măng thường dùng như sau Hồ xi măng Hỗn hợp của xi măng và nước. Hồ xi măng ít có ứng dụng thực tiễn, chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu vật liệu xi măng do chiếm tỷ lệ phần trăm lớn và chi phối nhiều tính chất cơ lý của loại vật liệu này. Vữa xi măng Hỗn hợp của xi măng, cát và nước. Nói một cách khác, vữa là vật liệu nhận được khi cho thêm cát vào công thức của hồ xi măng. Bê tông Hỗn hợp của xi măng, cát, sỏi và nước hoặc tùy trường hợp cụ thể có thể có thêm chất phụ gia hoặc các chất thêm khác. Ngành xi măng thế giới Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng. Tổng công suất thiết kế xi măng toàn cầu tính đến cuối năm 2016 ước đạt hơn 6 tỷ tấn. Sản lượng sản xuất xi măng toàn cầu tính đến năm 2017 ước đạt 4,2 tỷ tấn theo báo cáo của VIRAC – tương đương 73,4% công suất thiết kế, tăng mạnh từ mức 1,38 tỷ tấn năm 2002. Mức tăng trưởng xi măng thế giới năm 2016 là 2,44%, cao hơn so với mức tăng trưởng 1,44% của năm 2015. Mức tăng trưởng này bắt nguồn từ việc mở rộng ngành ở các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng thuộc khu vực Đông Nam Á và sự đóng góp của các quốc gia ở Châu Á khác và khu vực Nam, Trung Mỹ, Châu Phi và Trung Đông. Sản xuất xi măng tại khu vực Châu Á dẫn đầu toàn thế giới, chiếm khoảng 80,2% sản lượng xi măng toàn cầu năm 2015. Hiện nay, Trung Quốc đang là quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 58,6% sản lượng toàn cầu. Ngành xi măng Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng sau khi cải cách và mở cửa. Từ năm 1986 đến năm 2016, sản lượng xi măng của Trung Quốc đã tăng từ 166 triệu tấn lên 2,46 tỷ tấn với tỷ lệ tăng trưởng kép CAGR giai đoạn này đạt 9,3%/năm. Mặc dù nền kinh tế có dấu hiệu giảm nhẹ trong những năm gần đây, ngành xi măng Trung Quốc vẫn tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về sản lượng sản xuất xi măng trong nhiều năm. Rào cản để gia nhập ngành công nghiệp xi măng Trung Quốc tương đối cao. Tính đến hết năm 2016, Trung Quốc có khoảng hơn doanh nghiệp sản xuất xi măng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, Chính phủ Trung Quốc tăng cường kiểm soát và hạn chế tăng trưởng đối với ngành xi măng. Năm 2018, việc tăng sản lượng xi măng sẽ bị nghiêm cấm tại Trung Quốc, chỉ những dự án sản xuất xi măng thực sự cần thiết mới được xây mới mà vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhằm đảm bảo tổng sản lượng chỉ giảm, chứ không tăng. Hiệp hội Xi măng Trung Quốc cũng đặt mục tiêu sẽ giảm 392,7 triệu tấn xi măng, chiếm 1/10 tổng sản lượng cả nước, đến năm 2020. Tổng quan về ngành xi măng Việt Nam Thị trường Theo loại hình doanh nghiệp Thị trường xi măng phân chia cho 3 đối tượng, bao gồm Khối Tổng Công ty Vicem Hà Tiên 1, Bút Sơn, Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Tam Điệp chiếm khoảng 35% thị phần – là nhóm có tổng công suất đạt 27% tổng công suất xi măng Việt Nam. Khối Liên doanh SCCC Thái Lan, Nghi Sơn Nhật Bản, Chinfon Indonesia, Thăng Long Indonesia, Luks Hongkong, chiếm khoảng 29% thị phần. Khối các doanh nghiệp tư nhân Xuân Thành, Công Thành, Vissai và nhiều công ty xi măng nhỏ khác tại địa phương nắm giữ khoảng 35% thị phần. Theo khu vực địa lý Miền Nam Hà Tiên 1 và SCCC là 2 nhà máy xi măng lớn nhất chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ phía Nam. Miền Bắc và Miền Trung có nhiều nhà máy xi măng lớn. Một số công ty tiêu biểu như Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Bút Sơn, Nghi Sơn, Lusks và Chinfon. Kênh phân phố i Nhằm tạo ra hiệu quả kinh doanh cao nhất, hầu hết các doanh nghiệp có sự phân vùng phân phối và xây dựng các hình thức phân phối phù hợp với doanh nghiệp của mình. Về cơ bản có 2 hình thức xây dựng kênh phân phối chính Hệ thống phân phối chính và hệ thống đại lý là phương pháp lựa chọn trên từng địa bàn một hay một số cá nhân, đơn vị đáp ứng các tiêu chí để làm nhà phân phối chính. Nhà phân phối chính là người trực tiếp mua hàng của công ty sản xuất thông qua văn phòng đại diện hoặc đơn hàng. Ưu điểm của kênh phân phối này là Tiền được trả trước khi nhận hàng và Nhà phân phối chính có trách nhiệm tổ chức các đại lý bán lẻ tại các địa bàn đã được đăng ký để quản lý tốt công tác vận tải và chống bán phá giá thị trường theo khu vực. Mô hình này xác lập lợi ích hài hòa giữa nhà sản xuất và nhà phân phối cho phép các công ty sản xuất xi măng tận dụng được năng lực của xã hội trong công tác tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm được chi phí bán hàng, đồng thời đòi hỏi nhà phân phối chính phải có năng lực tổ chức và tài chính. Hệ thống nhà phân phối dự án để cung cấp kịp thời số lượng lớn xi măng cho các công trình xây dựng trọng điểm của Nhà nước, các công ty lựa chọn mô hình nhà phân phối dự án, đó là công ty ký hợp đồng cung cấp các chủng loại xi măng trực tiếp với các nhà thầu thi công công trình. Ưu điểm của kênh phân phối này là i sản phẩm được cung cấp trực tiếp theo nhu cầu của các công trình với số lượng lớn, đặc biệt các công trình có nhu cầu lớn như thủy điện, cầu cống, trung tâm thương mại, nhà cao tầng,…; ii áp dụng chính sách hoa hồng hấp dẫn cho các nhà phân phối sản phẩm. Tính chu kỳ, mùa vụ ngành Phụ thuộc lớn vào tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa quốc gia và nhu cầu xây dựng theo từng chu kỳ kinh tế, ngành xi măng có cùng chu kỳ phát triển với các ngành kinh tế khác như Bất động sản, Xây dựng, Đầu tư công. Tính chu kỳ ngành thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay, cụ thể Từ năm 2013-2014 thị trường bất động sản trầm lắng đã tác động đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xi măng nói riêng và nhóm ngành vật liệu xây dựng nói chung. Đây là giai đoạn khó khăn của ngành xi măng. Từ năm 2015 đến nay hưởng lợi từ tăng trưởng của thị trường bất động sản, ngành xi măng cũng đã có những chuyển biến tích cực trở lại. Ngoài ra, qua quan sát và số liệu thống kê về diễn biến sản lượng tiêu thụ của ngành xi măng trong năm cũng cho thấy tính mùa vụ của ngành Thời điểm tiêu thụ xi măng giảm mạnh tháng 2 hàng năm do đây là thời điểm Tết Nguyên đán của Việt Nam, nhu cầu xây dựng giảm mạnh. Thời điểm tiêu thụ xi măng tăng cao quý II và quý IV hàng năm thường cao nhất sau Tết Nguyên đán và mua khô ở miền Nam thuận lợi cho việc xây dựng. Bên cạnh đó, năm 2017 và 2018, diễn biến thời tiết mưa bão kéo dài cũng là lý do sản lượng tiêu thụ của ngành xi măng trong nước tăng không đáng kể. Sự phân bổ không đồng đều của nhà máy sản xuất dẫn đến chênh lệch giá giữa các vùng miền Các nhà máy xi măng phân bổ không đồng đều, các nhà máy tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc như Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Ninh,… là những nơi tập trung nhiều mỏ đá vôi, than đá ở miền Bắc hiện có tới 340 mỏ và các điểm khai thác đá vôi đang hoạt động – nguyên liệu chính sản xuất xi măng để tiết kiệm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và thuận lợi cho việc khai thác, trong khi số lượng các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Vì vậy, nguồn cung xi măng ở phía Bắc thường dư thừa, trong khi miền Nam thiếu hụt. Chính vì tình trạng mất cân đối thị trường, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xi măng tại miền Bắc thường cao hơn so với thị trường miền Trung và miền Nam cung vượt cầu khoảng 10 triệu tấn/năm, còn đối với các doanh nghiệp xi măng miền Nam do không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, kể từ năm 2010 trở đi, bình quân mỗi năm vận chuyển từ Bắc vào Nam khoảng 10 triệu tấn xi măng và Clinker. Theo đó, giá bán xi măng cũng có sự chênh lệch giữa các vùng miền giá bán xi măng tại thị trường miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc khoảng 10-5%, đặc biệt là khi chính sách kiểm soát tải trọng của Chính phủ có hiệu lực đối với các phương thức vận chuyển hoặc khi giá than đá, thạch cao và các nguyên liệu đầu vào sản xuất khác biến động tăng giá. Chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng cao trong cấu thành giá sản phẩm Sản xuất xi măng là ngành có chi phí vận chuyển chiếm tới 30% giá thành sản phẩm do các nguyên liệu đầu vào như than đá, đá vôi, clinker… đều là các sản phẩm có tải trọng nặng, khó khăn trong vận chuyển. Chính vì vậy, doanh nghiệp nào có lợi thế về vị trí sản xuất gần các mỏ khai thác, giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển hoặc thị trường tiêu thụ chủ yếu tại địa phương thì doanh nghiệp đó có ưu thế cạnh tranh về giá do tiết giảm chi phí so với doanh nghiệp sản xuất xi măng ở những nơi khác. Việc vận chuyển của ngành xi măng Việt Nam từ trước đến nay có ít sự lựa chọn, đa phần phụ thuộc nhiều vào đường bộ, ít chú trọng vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường thủy có chi phí rẻ hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do i số lượng tuyến vận chuyển bằng đường sắt, đường thủy ít; ii khó khăn khi vận chuyển tại các vùng miền trung du cần các phương tiện chuyên chờ linh động hơn; iii các mỏ khai thác, nhà máy sản xuất xi măng phần lớn đặt xa ga tàu, trạm cảng. Kể từ năm 2014, khi việc thực hiện chính sách kiểm soát nghiêm ngặt trọng tải xe lưu thông trên đường bộ đã khiến các doanh nghiệp xi măng đối mặt với vấn đề cước vận tải tăng tăng từ 20%-30% do phải chia nhỏ chuyến hàng để vận chuyển. Hiện do thiếu clinker và xi măng nên miền Nam buộc phải nhập khẩu hoặc vận chuyển từ miền Bắc và miền Trung vào thông qua đương biển. Tuy nhiên, trạm nghiền ở miền Nam chủ yếu là xây dựng dọc theo các con sông và các cảng biển nên hầu hết các cảng ở miền Nam chỉ có thể tiếp nhận tàu tấn mà không thể xử lý các tàu lớn từ tấn trở lên. Xem thêm 4 xu hướng phát triển của thị trường bất động sản Những kiến thức căn bản về chứng khoán phái sinh Quảng cáo Trà giảm cân
Nhờ nhu cầu tiêu thụ xi măng đi lên cùng với các chi phí được tiết giảm nên Xi măng Hà Tiên 1 báo lãi trước thuế 241 tỷ đồng và là quý có kết quả cao nhất trong gần ba năm trở lại đây. CTCP Xi măng Hà Tiên 1 Mã HT1 vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2021 với doanh thu thuần tăng 11% so với cùng kỳ lên tỷ đồng do sản lượng tiêu thụ xi măng tăng 12%Trong kỳ, chi phí tài chính giảm nhờ chi phí lãi vay, bên cạnh các chi phí hoạt động được duy trì nên cả quý, Xi măng Hà Tiên 1 báo lãi tăng 16% lên 241 tỷ đồng. Đây là quý có kết quả cao nhất kể từ quý III/ kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần của doanh nghiệp đạt tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 335 tỷ đồng, lần lượt tăng 6% và 7%.Với kết quả này, Xi măng Hà Tiên 1 đã thực hiện được 50% kế hoạch doanh thu và 52% chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm đến cuối tháng 6, quy mô tổng tài sản của Xi măng Hà Tiên 1 còn tỷ đồng, giảm 8% so với ngày đầu năm, chủ yếu do lượng tiền nhàn rỗi giảm 475 tỷ và tài sản cố định hữu hình giảm 279 tỷ.Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả giảm 21% về tỷ đồng cuối quý II và chiếm 40% tổng nguồn vốn. Tổng đi nợ đi vay của doanh nghiệp còn tỷ đồng, giảm 20% và hoàn toàn là nợ vay ngắn hạn. Vốn chủ sở hữu tính tới cuối quý II là tỷ đồng. Trong đó, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 911 tỷ đồng.
24HMoney đã kiểm duyệt Trong các ngành sản xuất VLXD thì ngành xi măng đang có công suất cao, cung lớn hơn cầu ở thị trường nội địa, gây áp lực lên các nhà sản xuất. DN đối diện với áp lực nào?Hiện cả nước có 90 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất 106,6 triệu tấn/năm, nhưng thực tế có thể sản xuất 122 triệu tấn/năm. Thị trường xi măng cung vượt cầu ở mức cạnh áp lực dư cung, ngành Xi măng còn đối diện với áp lực tăng chi phí đầu vào như giá nguyên liệu sản xuất đầu vào như than, điện, xăng dầu, vỏ bao... đều tăng. Than là nguyên liệu chiếm khoảng 30% trong cơ cấu giá thành cho sản xuất xi măng nhưng giá than tăng mạnh. Việc tăng giá bán đã được DN xi măng tính đến nhưng trên thực tế DN chỉ dám tăng “rón rén”, từ - đ/tấn, do lo ngại xi măng nước ngoài xâm nhập thị trường nội địa, nếu giá bán trong nước cao. Xi măng là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc tăng giá than, đang đứng trước những áp lực đầy thách khó khăn, thách thức, nhưng ngành Xi măng vẫn cán đích thành công với mức tăng trưởng nhích hơn năm 2020. Tổng sản lượng sản xuất năm 2021 dự kiến 103,21 triệu tấn, tăng 1,4% so với năm 2020, tiêu thụ khoảng 105,26 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2020. Trong đó, xi măng tiêu thụ nội địa khoảng 62 triệu tấn, tương đương năm 2020. Mặc dù sản lượng sản xuất cả năm đạt tương đương năm 2020 nhưng do nguyên, nhiên liệu sản xuất đầu vào tăng, chi phí tăng nên lợi nhuận ngành Xi măng không đạt như kỳ 3 năm gần đây, xuất khẩu xi măng và clinker của nước ta đều đạt trên 30 triệu tấn/năm, riêng năm 2021, xuất khẩu sản phẩm xi măng và clinker khoảng 42 - 45 triệu tấn, tăng 19% so với năm 2020, giá trị xuất khẩu ước đạt 2,1 tỷ USD, ghi dấu kỷ lục con số xuất khẩu cao nhất từ trước đến sở nào kỳ vọng tiêu thụ tăng?Dự báo về thị trường xi măng năm 2022, các chuyên gia cho rằng Sản lượng tiêu thụ xi măng nội địa sẽ tăng trở lại, nhưng biên lợi nhuận gộp của các DN sản xuất sẽ gặp áp lực lớn do cạnh tranh khốc liệt khi thị trường xi măng cung vượt cầu, cộng thêm áp lực từ tăng giá nguyên nhiên liệu đầu vào cho sản xuất. Đặc biệt, giá than trong nước dự báo điều chỉnh tăng trong năm 2022 do chi phí sản xuất, khai thác than hầm lò cao nhiên, tốc độ tăng trưởng cụ thể của ngành Xi măng sẽ phụ thuộc vào việc kiểm soát dịch Covid - 19. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh dự kiến tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 38,5% trong năm 2020, tăng 1,16 điểm phần trăm so với 2019 cùng tăng trưởng dân số 0,9% mỗi năm sẽ thúc đẩy nhu cầu nhà ở và tiêu thụ VLXD, trong đó có xi măng tăng theo. Theo ước tính từ số liệu của CIC và Tổng điều tra dân số 2019, trong giai đoạn 2019 - 2023, tổng nhu cầu nhà ở xây mới và thay thế sẽ ở mức 691,7 nghìn căn hộ, tương đương 2,5% số căn nhà cả nước năm giải ngân đầu tư công và đẩy mạnh các dự án đầu tư xây dựng được kỳ vọng là giải pháp thúc đẩy ngành Xi măng tăng tiêu thụ nội địa. Theo tính toán, đầu tư công tăng 1% thì GDP tăng 0,06%, nhiều ngành sẽ được hưởng lợi. Xi măng là “bánh mỳ” của ngành Xây dựng, là nguyên vật liệu quan trọng trong xây dựng công trình. Giai đoạn 2022 - 2023, các công ty xi măng mới thực sự hưởng lợi từ các dự án đầu tư hạ tầng, sau khi các công trình sử dụng vốn công đã hoàn tất giải phóng mặt dây chuyền đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư đến năm 2030 là 24 dây chuyền, với tổng công suất 36,31 triệu tấn. Dự kiến đến năm 2030, cả nước có 109 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất 140,35 triệu tấn/năm. Điều đó có nghĩa là thị trường xi măng luôn có nguồn cung rất lớn, không có “cơn sốt” thiếu xi măng. Có chăng là sự phân bố không đồng đều giữa các vùng miền bởi nhiều nhà máy xi măng tập trung ở miền Bắc và miền Trung, ít ở miền Nam. Kỳ vọng đồ thị tăng trưởng đột biến từ ngành Xi măng là rất thấp. Xi măng xuất xuất tăng thuế xuất clinker thêm 5%Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, dự báo có khó khăn trong năm 2022. Xi măng xuất khẩu sang thị trường Philipines chịu thêm thuế tự vệ của nước sở tại. Philipines áp thuế nhập khẩu khoảng 5% giá bán, Bangladesh áp thêm 8% GTGT từ mức 15% lên 23%. Điều này có thể tạo ra xu hướng áp thuế tại nhiều thị trường xuất khẩu khác của Việt Nam như Trung Quốc, châu khác, Bộ Tài chính đang đề xuất Chính phủ tăng mức thuế xuất khẩu với mặt hàng clinker từ 5% lên 10% nhằm hạn chế xuất khẩu sản phẩm dùng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu và tài nguyên khoáng sản không tái tạo. Việc tăng thuế xuất clinker là cần thiết để hạn chế xuất khẩu clinker nhưng trong bối cảnh dịch bệnh và thị trường xi măng nội địa dư cung thì áp lực tăng thuế này sẽ đè nặng lên vai các Chiến lược phát triển VLXD Việt Nam, hạn chế xuất khẩu sản phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu là tài nguyên khoáng sản không tái tạo, trong đó, riêng xuất khẩu clinker và xi măng không vượt quá 30% tổng công suất thiết kế trong giai đoạn 2021 - vấn đề nữa cũng cần các DN xi măng cân nhắc, tính toán đó là Đến năm 2023, xi măng xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển cần đáp ứng yêu cầu hàm lượng CO2 trong sản xuất xi măng ở mức thấp. Nếu hàm lượng CO2 trong sản xuất xi măng cao như hiện nay, DN sẽ phải chịu mức thuế cao triển theo xu hướng nào?Một cuộc cạnh tranh gay gắt, mang tính sàng lọc đang diễn biến mạnh mẽ trong thị trường xi măng. Bởi những DN nhỏ, công nghệ lạc hậu, có chi phí sản xuất cao cộng độ phủ thương hiệu kém sẽ bị bỏ lại phía sau trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, thậm chí khó tồn cấu trúc toàn diện, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt các DN xi măng cần giảm hàm lượng CO2 trong sản xuất, quan tâm nhiều đến môi trường...Chia sẻ về xu hướng của ngành Xi măng trong tương lai, TS Nguyễn Quang Cung - Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam nhấn mạnh Xu hướng tất yếu ngành Xi măng bắt buộc phải đi là sản xuất thân thiện với môi trường. Trong đó, tập trung sản xuất xi măng các bon thấp; giảm tối đa nồng độ bụi và tận dụng nhiệt thừa để phát điện.“Khác với các ngành khác, ngành Xi măng đầu tư cho môi trường gắn liền với hiệu quả sản xuất, góp phần phát triển bền vững. Hướng tới sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên là hướng đi tất yếu của ngành Xi măng trong bối cảnh tài nguyên không tái tạo ngày càng cạn kiệt, giá than, dầu và các chi phí đầu vào ngày càng tăng” - TS Cung nhấn hướng thứ hai, theo Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, đó là sử dụng các giải pháp công nghệ để tăng năng suất, nâng công suất thiết kế, gia tăng phụ gia, giảm sử dụng clinker. Nhìn về dài hạn, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam lạc quan cho rằng Xu hướng tương lai sử dụng xi măng trong xã hội sẽ tăng, xây dựng tăng. Tiêu thu xi măng bình quân đầu người tăng 30 - 40%, từ 620 kg/đầu người lên kg/đầu cường quản lý nhà nướcTheo Vụ Vật liệu xây dựng, năm 2022, Bộ Xây dựng tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách để quản lý nhà nước lĩnh vực VLXD như tổ chức lập “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; tham gia Đề án xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam thời kỳ 2020 - 2030, tầm nhìn 2045 của Ban Kinh tế Trung Xây dựng theo dõi diễn biến thị trường VLXD, bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường. Đồng thời, tiếp tục rà soát, đề xuất hoàn thiện các chính sách liên quan đến lĩnh vực VLXD và khoáng sản làm VLXD gắn với giải pháp phát triển ổn định, bền vững, sử dụng vật liệu thay thế, tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường. Đôn đốc các nhà máy xi măng triển khai nghiên cứu, lắp đặt thiết bị tận dụng nhiệt thừa khí thải lò nung để phát điện, tăng cường sử dụng tro, xỉ, thạch cao làm phụ gia trong sản xuất xi măng...
Tên công ty CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN XI MĂNG CFC Địa chỉ Tầng 9, tòa nhà DREAMPLEX, 195 Điện Biên Phủ, Q. Bình Thạnh, HCM Website 1. Giới thiệu tổng quan về công ty Được thành lập từ năm 2008, Công ty Tài chính Cổ phần Xi măng CFC là một tổ chức tài chính với 03 cổ đông chiến lược là Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam Vicem, Ngân hàng Bản Việt Viet Capital Bank và Ngân hàng Ngoại Thương Vietcombank. 2. Nhu cầu tuyển dụng hiện tại và tương lai của công ty - Nhân viên Tư vấn Tài chính. - Nhân viên Dịch vụ Khách hàng/Trung tâm Dịch vụ khách hàng - Nhân viên Thẩm định Tín dụng/Trung tâm Thẩm định - Nhân viên Quản lý nợ/Trung tâm Thu hồi nợ
tài chính xi măng